Tam Nguyên Của Tứ Trụ - Thầy Phong Thủy Tam Nguyên
  • 1900 2292
  • phongthuytamnguyen@9119.vn
  • Thứ 2 - Thứ 7: 9:00 - 18:00

Tam Nguyên Của Tứ Trụ

Share on facebook
Share on google
Share on twitter
Share on linkedin
tam nguyên của tư trụ

Mỗi người sống trên đời này vì giờ sinh ở vào các trạng thái khác nhau của vũ trụ nên được hưởng khí âm dương bẩm sinh trong đục, vượng suy khác nhau. Hôm nay Thầy Phong Thuỷ Tam Nguyên sẽ cùng các bạn tìm hiểu về Tam Nguyên Của Tứ trụ

NHẬT NGUYÊN VÀ MƯỜI THẦN

nhật nguyên và mười thần

Mỗi người sống trên đời này vì giờ sinh ở vào các trạng thái khác nhau của vũ trụ nên được hưởng khí âm dương bẩm sinh trong đục, vượng suy khác nhau. Tứ trụ lấy sự vượng suy của can ngày trong Tứ trụ làm trung tâm, còn những can chi khác sẽ sinh khắc, phù trợ hay hạn chế can chi ngày sinh để cấu tạo thành một hệ thống. Tổ hợp của can ngày sinh với các can chi khác trong Tứ trụ là biểu tượng của âm dương ngũ hành cấu tạo thành đặc điểm của một con người cụ thể. Phú quý, phúc hoạ của con người đều xuất phát từ can ngày sinh và thông qua nó để thể hiện trạng thái được chung kết lại của người đó trong vũ trụ. Do đó can ngày sinh được gọi là “nhật nguyên” hoặc “nhật chủ”, hoặc “thân”.

Nhật Chủ Xác Định 10 Thần

Nhật chủ là tôi, là thân mình. Quan hệ giữa tính ngũ hành nhật chủ với tính ngũ hành của cãc can chi khác trong Tứ trụ không ngoài: chính, thiên sinh, khắc. Can ngày dương gặp các can dương khác là sự gặp gỡ đồng tính, là thiên; can ngày dương gặp các can âm khác là sự gặp gỡ dị tỉnh, là chính. Cũng giống như thế, can ngày âm gặp các can âm khác là sự gặp gỡ đồng tính, là thiên; can ngày âm gặp các can dương khác là sự gặp gỡ dị tính, là chính.

Các can khác với nhật chủ còn có năm mối quan hệ: “sinh tôi”, “tôi sinh”, “khắc tôi”, “tôi khắc”, “ngang vai”.

Cái sinh ra tôi là cha mẹ, nên có tên là ấn thụ. Ân tức là âm, thụ tức là được. Ví dụ cha mẹ có ân đức thì che chở cho con cháu, tức con cháu được phúc của cha mẹ. Nhà nước cho làm quan, phong cho chức tước là được nhận quyền ấn, quyền quản lí trong tay. Quan không có ấn là không có chỗ dựa cũng như người ta không được nương tựa vào cha mẹ.

  • Cái tôi sinh ra là con cái, nên có tên là thực thần. Côn trùng ăn hoa quả làm tổn thương cây cối, còn con người ăn của cải thì tạo ra của cải.

  • Cái khắc tôi là tôi bị khống chế, ràng buộc, nên có tên là quan sát. Nhà nước phong quan cho mình tức mình thuộc người của nhà nước, phải phục vụ mãi đến già mới thôi. Như thế gọi là vừa được chức quan, nhưng lại vừa bị ràng buộc.

  • Cái tôi khắc là cải bị tội khống chế, ràng buộc nên có tên là thê tài. Như người ta lấy vợ lại được của hồi môn là gia trang điền thổ, tài sản cấp cho tôi dùng tức vợ đãi cho tôi. Tôi được vợ làm nội trợ trong nhà đỡ hốt khó khăn.

Trong các mối quan hệ sinh khắc, chế, hóa, ở trên, khi nhật chủ của tôi là can dương gặp can âm khác của Tứ trụ thì gọi là chính, can dương gặp can dương gọi là thiên. Ví dụ can dương nhật chủ gặp can âm của trụ khác sinh ra tôi là chính ấn, là mẹ đẻ, nếu gặp can dương của nhật chủ can dương của trụ khác sinh ra tôi thì gọi là thiên ấn, tức là mẹ kế hoặc mẹ nuôi. Cho nên ngoài năm mối quan hệ ra còn có sự phân chia thành mười thần.

  • Cái sinh tôi là cha mẹ. Can âm sinh tôi dương, can dương sinh tôi âm là chính ấn; can dương sinh tôi dương, can âm sinh tồi âm là thiên ấn.

  • Cái tôi sinh là con cái. Tôi âm sinh can dương, tôi dương sinh can âm là thương quan; tôi âm sinh can âm, tôi dương sinh can dương là thực thần.

  • Cái khắc tôi là quan sát. Can âm khắc tôi dương, can dương khắc tôi âm là chính quan; can âm khắc tôi âm, can dương khắc tôi dương là thất sát.

  • Cái tôi khắc là thê tài. Tôi âm khắc can dương, tôi dương khắc can âm là chính tài; tôi âm khắc can âm, tôi dương khắc can dương là thiên tài.

  • Cái ngang tôi là anh em. Can âm gặp tôi dương, can dương gặp tôi âm là kiếp tài; can âm gặp tôi âm, can dương gặp tôi dương là ngang vai.

Từ trên ta thấy rõ, tôi là nhật chủ.

Khắc tôi, khống chế tôi là quan sát:

Đồng tính: thiên quan Dị tính: chính quan

Sinh tôi, phù trụ tôi là ấn tinh:

Đồng tính: thiên ấn Dị tính: chính ấn

Ngang tôi, giúp tôi là tỉ kiếp:

Đồng tính: ngang vai DỊ tỉnh: kiếp tài

Tôi sinh, xì hơi tôi là thực thương:

Đồng tính: thực thần DỊ tính: thương quan.

Tôi khắc, làm hao mòn tôi là tài tinh:

Đồng tính: thiên tài Dị tính: chính tài.

Cách tra mười thần của thiên can như sau: ví dụ nhật chủ là giáp, can khác của Tứ trụ gặp giáp là ngang vai, gặp ất là kiếp tài, gặp bính là thực thần… những cái khác đều suy theo cách tương tự.

THIÊN NGUYÊN

nhật nguyên và mười thần

Các can và chi trong Tứ trụ tượng trưng cho khí âm dương, trong đục của trời đất. Thiên can chủ về lộc, là thiên nguyên. Địa chi chủ về thân, là địa nguyên. Con người là vật trong trời đất, trong địa chi vốn đã tàng chứa khí trung hòa bẩm sinh của âm dương ngũ hành, là chủ mệnh, là nhân nguyên. Sự phán đoán tổng hợp tam nguyên (thiên, địa, nhân) là một thể thông nhất trong mệnh lí học có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thông qua sự khảo sát tam nguyên: thiên, địa, nhân của một người là có thể chỉ ra toàn bộ tiền đồ, cát hung họa phúc, thuận nghịch của cả đời người. Cho nên nói: “Bản mệnh của con người với gắn chặt với tam nguyên, đó là sự tổng hợp của mọi pháp tắc”. Tất cả mọi sự suy đoán đều lấy tam nguyên làm cơ sở, nếu kết hợp với tướng tay và tướng mặt thì có thể đạt đến sự chính xác, chi tiết đến diệu kì.

Thiên nguyên tức là can giờ, can ngày, can tháng, can năm trong Tứ trụ. Sự suy đoán về thiên nguyên chủ yếu thông qua sự hóa hợp sinh khắc của ngũ hành giữa can ngày với ba can còn lại cùng với sự ước đoán của mười thần, cũng như sự phán đoán về độ mạnh yếu, tổn hại hay có ích của sự việc mà can ngày làm chủ lộ ra trong Tứ trụ.

Thiên Can Thấu Ra

Từ trong thiên tượng có thể thấy được mức độ trong sáng, nặng nhẹ của khí bẩm sinh con người. Trong mười thần lộ ra, dưới điều kiện tiên quyết là sự mạnh nhược, vượng suy của Tứ trụ không bị phá vd thì tổ hợp trong sáng của Tứ trụ sẽ lộ ra là: thực (thương) sinh tài, tài sinh quan (sát), quan (sát) sinh ấn, thực thần chế sát, thương quan hợp sát, thương quan (thực thần) mang ấn…, đó thường là một trong những yếu tố của mệnh phú quý. Những tổ hợp còn lại thì cần phải căn cứ vào tình hình khác nhau mà kết luận. Thiên can lộ ra tức là trên thiên can của Tứ trụ lộ ra mười thần.

Ví dụ: Sinh giờ tuất ngày 14 tháng 2 âm lịch năm 1993

QuanẤn , NhậtThực
Quý dậu, Ất mão, Bính tuất, Mậu tuất

Trước hết xem mối quan hệ sinh khắc giữa nhật nguyên với các can khác lộ ra như thế nào: nhật nguyên là bính hỏa, can nồm đối với bính mà nói, là quý thủy khắc bính hỏa. Can âm khắc can dương tôi, âm gặp dương chính, cho nên trên can quý của năm lộ ra chính quan.

Can tháng ất mộc đối với bính hỏa mà nói, là ất mộc sinh tôi bính hỏa, can âm sinh tôi can dương, âm gặp dương là chính nên phía can ất của tháng lộ ra chính ấn.”

Can giờ mậu thổ đối với bính hỏa mà nói, là tôi bính hỏa sinh mậu thổ, tôi can dương sirih can dương, dương gặp dương là thiên, nên phía trên can mậu của giờ lộ ra thực thần.

Ví dụ 2. Sinh giờ thìn ngày 27 tháng 2 âm lịch năm 1993
Thương Tài Nhật Tỉ
Quý dậu, Giáp dần, Canh ngọ, Canh thìn
Nhật nguyên là canh.

Can năm quý thủy đối với canh kim mà nói, là tôi canh kim sinh quý thủy, tôi can dương sinh can âm, dương gặp âm là chính cho nên trên can quý của năm lộ ra thương quan.

Can tháng giáp mộc đối với canh kim mà nói, là tôi canh kim khắc giáp mộc, tôi can dương khắc can dương, dương gặp dương là thiên nên trên can tháng lộ ra thiên tài.

Can giờ canh kim đối với canh kim mà nói lè cùng loại ngũ hành, dương gặp dương cho nên trên can canh của giờ lộ ra tỉ.

Ví dụ 3. Sinh ngày 25 tháng 2 âm lịch năm 1993.
Sát Kiêu Nhật Tài
Quý dậu, Ất mão, Đinh dậu, Canh tuất

Can năm quý là thủy, đối với đinh là hỏa mà nói, là quý thủy khắc tôi đinh hỏa, can âm khắc tôi can âm, âm gặp âm là thiên nên trên can năm lộ ra thất sát.

Can tháng ất mộc đối với đinh hỏa mà nói, là ất mộc sinh tôi đinh hỏa, can âm sinh can âm nên là thiên, cho nên trên can tháng lộ ra kiêu thần (tức thiên ấn).

Can giờ canh kim đối với đinh hỏa mà nói, là tôi đinh hỏa khắc canh kim, tôi can âm khắc can dương, âm gặp dương là chính nên trên can giờ lộ ra chính tài.

Ngũ Hợp Của Thiên Can

  • Giáp hợp với kỉ, tức hợp với người hay sự việc là sự hợp trung chính.
  • Ất hợp với canh, tức hợp với người hay sự việc là hợp nhân nghĩa.
  • Bính hợp với tân, tức hợp với người hay sự việc là sự hợp có uy lực để chế ngự.
  • Đinh hợp với nhâm, tức hợp với người hay sự việc là sự hợp dâm loạn.
  • Mậu hợp với quý, tức hợp với người hay sự việc là sự hợp vô tình.

Ngũ hợp với thiên can là sự hợp âm dương, như nam nữ tương hợp với nhau mà thành đạo vợ chồng. Cho nên kinh Dịch nói: “Một âm một dương gọi là đạo, thiên dương thiên dương gọi là tật”. Sự hợp giữa người hay việc có nguồn gốc từ bản tính của âm dương ngũ hành.

Thiên can hợp với nhau hóa thành ngũ hành:

  • Giáp hợp với kỉ hóa thành thổ.
  • Ất hợp với canh hóa thành kim.
  • Bính hợp với tân hóa thành thủy.
  • Đinh hợp với nhâm hóa thành mộc.
  • Mậu hợp với quý hóa thành hỏa.

Thiên can một âm hợp một dương mà hóa ra ngũ hành, đối với sự mạnh yếu vượng suy của nhật nguyên có vai trò quan trọng làm tăng thêm sự sinh phù hay khắc chế cho nhật nguyên.

LỜI KẾT

Trên đây Phong Thuỷ Tam Nguyên đã điểm lại những thông tin liên quan về Tam Nguyên Tứ Trụ.

Những kiến thức về tứ trụ ở trên được chắt lọc và tìm hiểu, hy vọng đá cung cấp đến quý anh chị bạn

Thầy Phong Thủy Tam Nguyên

Thầy Phong Thủy Tam Nguyên

Leave a Replay

Giới Thiệu

Thầy Tam Nguyên hiện đang là Tổng thư ký Hiệp hội dịch học Thế giới phân hội Việt Nam

Viện phó thường trực Viện nghiên cứu & Phát triển Văn hóa Phương Đông.

Giám đốc Công ty TNHH Kiến trúc Phong thủy Tam Nguyên.

Bài Viết Mới Nhất

Theo Dõi Fanpage

Clip Mới Hàng Tuần